Điểm mới về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động từ ngày 1-1-2021

Viewed: 5,111

1. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần lý do

- Từ ngày 1-1-2021, theo Bộ Luật lao động 2019: người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần lý do chỉ cần đáp ứng điều kiện về thời gian báo trước sau đây (trừ 1 số trường hợp không cần báo trước theo luật định):

+ Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

+ Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng.

Điểm mới về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động từ ngày 1-1-2021 - Ảnh 1.

+ Ít nhất 3 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng;

+ Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

2. 7 trường hợp người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần báo trước

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 35 Bộ luật lao động 2019 thì người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước trong trường hợp sau đây: (Hiện hành không quy định)

- Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 Bộ luật lao động 2019;

- Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 Bộ luật lao động 2019;

- Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;

- Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;

- Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại Khoản 1 Điều 138 Bộ luật lao động 2019.

Điểm mới về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động từ ngày 1-1-2021 - Ảnh 2.

- Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 Bộ luật lao động 2019, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;

- Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại Khoản 1 Điều 16 Bộ luật lao động 2019 làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.

3. Thêm trường hợp người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 36 Bộ luật lao động 2019 thì NSDLĐ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp sau đây:

- Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động được xác định theo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của người sử dụng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc do người sử dụng lao độngban hành nhưng phải tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở.

- Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục thì người sử dụng lao động xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động với NLĐ.

- Do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc.

- Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 31 Bộ luật lao động 2019.

- Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 Bộ luật lao động 2019, trừ trường hợp có thỏa thuận khác (mới).

Điểm mới về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động từ ngày 1-1-2021 - Ảnh 3.

- Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 5 ngày làm việc liên tục trở lên (mới).

- Người lao động cung cấp không trung thực thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 Bộ luật lao động 2019 khi giao kết hợp đồng lao động làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng NLĐ (mới).

4. 02 trường hợp người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần báo trước

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 36 Bộ luật lao động 2019 thì người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước trong trường hợp sau đây: (hiện hành không quy định)

- Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 31 Bộ luật lao động 2019.

- Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên.

5. Bổ sung thêm quy định về thời hạn báo trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù được thực hiện theo quy định của Chính phủ (Bộ luật lao động 2012 không quy định về vấn đề này).

  Theo Báo Người Lao Động

Similar posts

Bà Nguyễn Thị Kim Thoa có thẻ BHYT mã số GD4797911507903 đủ 5 năm liên tục từ ngày 28/1/2017. Thẻ hết hạn vào ngày 28/3/2020, tuy nhiên vì lý do cá nhân, bà Thoa không thể gia hạn thẻ BHYT đúng hạn.
Căn cứ NĐ 11/2020/NĐ-CP, Thông tư số 62/2020/TT-BTC, phụ cấp theo lương là các khoản phụ cấp lương theo mục 6100 - mục lục ngân sách hiện hành, có bao gồm mục 6105 (tiền làm đêm; làm thêm giờ).
Đóng BHXH liên tục mới được hưởng thai sản?
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam ban hành Quyết định 1921/QĐ-TLĐ về chi hỗ trợ cho đoàn viên, người lao động bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 và thiên tai năm 2020 trong dịp Tết Nguyên đán năm 2021.
Sau đây là 4 thông tin liên quan đến việc Nghỉ Tết Âm lịch năm Tân Sửu 2021 mà cán bộ, công chức, viên chức, người lao động cần lưu ý.
Tổng cục Thuế có Công văn 51/TCT-DNNCN ngày 07/01/2021 về chính sách thuế thu nhập cá nhân đối với các khoản thanh toán cho người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động.
Feedback